KHỦNG HOẢNG – CƠ HỘI CUỐI

Vào tháng này năm ngoái, quốc hội biểu quyết thông qua nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2008 theo đề xuất của chính phủ. Mặc dù tình hình lạm phát lúc đó đã đến mức báo động nhưng chính phủ và quốc hội vẫn xây dựng mục tiêu tăng trưởng GDP 8,5% – 9%. Con số này là một cơ sở để đòi phải tăng cường đầu tư, nghị quyết nêu rõ đầu tư sẽ đạt 42% GDP trong cùng năm tài khóa 2008 – một con số rất cao và tỷ lệ nghịch với chất lượng tăng trưởng nhưng tỷ lệ thuận với giá trị tham nhũng. Kết quả là các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các tập đoàn và tổng công ty, được rót ngân sách khổng lồ và đầu tư tràn lan vào đủ thứ lĩnh vực. Nguy cơ lạm phát không hề được tháo ngòi nổ từ gốc mà lại còn bị đổ thêm dầu vào lửa bởi nạn đầu tư ăn xổi ở thì này. Hậu quả thì thấy ngay lập tức, lạm phát và nhập siêu phi mã chóng mặt. Chính phủ buộc phải thắt chặt tiền tệ nâng lãi suất lên còn chóng mặt hơn.

Lợi ích công hay tư?

Hậu quả đến giờ ai cũng nhìn thấy. Nông dân lẫn các doanh nghiệp vừa và nhỏ điêu đứng, phá sản hàng loạt; sản xuất đình đốn làm sức cung suy giảm nghiêm trọng. Nhưng điều tồi tệ hơn nữa là sức cầu đã và đang tiếp tục suy thoái nặng nề cho dù nhu cầu mong muốn của người dân vẫn tăng. Chính phủ buộc phải nới lỏng tiền tệ. Dù vậy, lãi suất có xuống thêm nữa thì nhu cầu vay để đầu tư cho sản suất cũng không thể phục hồi chỉ trong một vài tháng do lực lượng sản xuất đã thiệt hại nặng nề, không thể gượng dậy ngay được. Trong khi đó, các biện pháp kích cầu tiêu dùng nội địa và đầu tư đang được khởi động. Những cái vòng luẩn quẩn đang được lặp lại.

Kỳ họp quốc hội mới đây vừa thông qua nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2009. Không hề tìm thấy những phân tích xác định các yếu kém căn nguyên của nền kinh tế và các vấn đề xã hội đang nóng bỏng để đưa ra những biện pháp sửa lỗi căn bản nhằm dần tạo ra sự phát triển bền vững. Thay vào đó, mục tiêu tăng trưởng được đặt khoảng 6,5%, tỷ lệ vốn đầu tư phát triển trên GDP là 39,5% (có giảm so với 2008 nhưng vẫn ở mức rất cao). Điều này cho thấy chính quyền vẫn tiếp tục theo đuổi những mục tiêu ngắn hạn, kém chất lượng và không bền vững.

Các mục tiêu này vẫn xoay quanh lợi ích của các nhóm thiểu số và được chi phối bởi động lực của các nhóm này như từ nhiều năm nay, bất chấp những nguy cơ và hậu quả vẫn còn đó của cả nước, bất chấp những bất lợi từ tình hình kinh tế thế giới. Việt Nam đang cần một sự tăng trưởng mà cơ hội của nó được phân bổ công bằng cho hầu hết dân chúng. Một mức tăng trưởng thấp hơn nhưng chất lượng tốt hơn thì đa số người dân vẫn được hưởng thành quả. Với kiểu tăng trưởng như lâu nay, lợi ích thì các nhóm thiểu số chiếm đoạt nhưng hậu quả thì đa số dân chúng lãnh đủ. Đó là chưa kể tác hại của môi trường bị hủy hoại, kẹt xe tắt đường, v.v…, tất cả đều đè nặng lên đa số người dân.

Thực sự muốn bền vững?

Cũng trong kỳ họp quốc hội vừa rồi, có đại biểu quốc hội chất vấn chính phủ về chiến lược phát triển bền vững thì được thủ tướng trả lời rằng phần này đã có trong báo cáo vừa mới đọc. Khi xem báo cáo này thì thấy một chiến lược tăng trưởng bền vững được viết trong vài dòng, với ý chung chung là xây dựng trên 3 trụ cột. Tiếng nói của những đại diện dân cử có đủ quyền hạn và tư cách còn bị dễ dàng lướt qua trước nghị trường, trước hàng triệu người dân mà họ đại diện, thì những cảnh báo khác làm sao thắng được sức mạnh của các nhóm lợi ích thiểu số. Những gì đang diễn ra ở Việt Nam gần một năm nay đã được cảnh báo ngay từ đầu năm 2006. Các phân tích cảnh báo này đã được gửi đến những đại biểu quốc hội với hy vọng họ sẽ tác động cần thiết để tránh những cơn bão cho nền kinh tế. Hy vọng này đã không thành hiện thực.

Bước sang 2007, những nguy cơ này càng trầm trọng hơn nhưng cả nước đang bị làm cho phấn khích với việc gia nhập WTO. Những cảnh báo nguy cơ và kiến nghị giải pháp đã được gửi đến các vị lãnh đạo chính phủ cao nhất với mong muốn nó sẽ được quan tâm để tháo gỡ ngòi nổ cho nền kinh tế. Những vấn đề được đề cập trong các bài “Một năm sau đại hội X – Cảnh báo những nguy cơ quốc gia”, “Việt Nam đồng đang ở đâu và sẽ đi về đâu” đều được trình bày rõ ràng kèm những giải pháp gửi cho các vị này. Khi chỉ nhận được sự thờ ơ của họ thì các bài viết này mới được cho công bố rộng rãi. Nhóm vận động này cũng đã tiếp cận bằng nhiều cách khác nhau thông qua những quan hệ khác nhau nhưng đều vô tác dụng trước sức chi phối của đồng tiền.

Vừa rồi, nhóm vận động này lại đổi cách tiếp cận, muốn thông qua báo chí chính thống trong nước để lên tiếng cảnh báo đến toàn dân nhằm tạo ra sự nhận thức đúng đắn vấn đề. Điều này ngoài việc giúp người dân khả năng tự chống đỡ khó khăn nó còn tạo áp lực lên các chính sách vĩ mô để có được sự điều chỉnh cần thiết, đặc biệt là lúc chính phủ và quốc hội chuẩn bị cho kế hoạch 2009. Kết quả nhận được vẫn là một sự im lặng đồng nhất, trong đó ứng xử có trách nhiệm nhất là “cảm ơn đã gửi bài”. Dù không quá ngạc nhiên nhưng những ai tham gia vào công việc này đều không thể tránh khỏi cảm giác xót xa cho số phận của dân tộc.

Chúng ta đều có thể hiểu được sức ép và sự bị khống chế mà các nhà làm báo gặp phải thời gian qua. Nhưng thái độ cúi đầu quá dễ dàng và nhanh chóng của họ thì thật khó mà tìm được sự đồng tình và thông cảm của người dân. Báo chí bây giờ thích khai thác sự bực dọc, uất hận của dân chúng đối với các sự việc đã gây hậu quả hơn là cung cấp cho họ những thông tin cần thiết để tránh hoặc đối phó với những nguy cơ có thể gây
hại. Một khi người dân đủ khả năng tự bảo vệ mình thì những hành động của các tổ chức hoặc nhóm lợi ích muốn trục lợi trên người dân khó mà thực hiện được để có thể gây ra hậu quả.

Bong bóng và thực chất

Một cơ hội nữa lại bị bỏ qua. Vào cuối năm 2007 nếu các nhà hoạch định chính sách vĩ mô biết lắng nghe và đặt quyền lợi của đa số dân chúng lên trên hết thì đã có được những chiến lược đúng đắn để chủ động đối phó với khủng hoảng, giảm đi thiệt hại rất lớn, thay vì rơi vào bị động buộc phải dùng đến những biện pháp gây nhiều hậu quả như ngày nay. Còn bây giờ, cơ hội để tránh được một sự sụp đổ nặng nề cũng đã bị đánh mất khi các chính sách của 2009 được phê chuẩn. Vẫn như từ nhiều năm nay, các chính sách vĩ mô này chủ yếu tập trung sử dụng các công cụ tiền tệ và tài khóa. Những thứ này chỉ tạo ra các tác động trong ngắn hạn, nhất thời làm thay đổi giá trị danh nghĩa – tức là một sự thay đổi ở ngọn. Sự thay đổi các giá trị danh nghĩa này nếu không đi kèm với sự gia tăng nguồn lực thì trước sau gì chúng cũng sẽ bị điều chỉnh về giá trị thực.

Các giá trị danh nghĩa ở Việt Nam hiện nay là những bong bóng khổng lồ liên thông nhau. Thời gian qua chúng chưa hề được xả hơi để giảm nguy cơ nổ tung, áp lực từ chỗ này chỉ được chuyển tạm thời qua chỗ khác mà thôi. Chứng khoán và bất động sản bơm hơi qua lạm phát và lãi suất, từ đây bơm tiếp vào tỷ giá. Bây giờ nó đang tìm cách để bơm vòng lại bất động sản, nếu biện pháp “kích cầu” bất động sản lần này không có tác dụng thì quả bóng tỷ giá sẽ nổ tung. Khủng hoảng do bong bóng xảy ra trong tình trạng nội lực suy kiệt như Việt Nam lúc này sẽ gây ra một sự sụp đổ toàn diện.

Nhiều nước trên thế giới cũng đang khủng hoảng, nhưng nước nào có nguồn lực trong nước được chăm sóc tốt và thực chất – tức là có nền tảng vững thì cho dù khủng hoảng có rất nặng nề đi nữa, nền kinh tế nước đó vẫn có khả năng điều chỉnh và nhanh chóng tạo ra cơ hội mới để phát triển. Việt Nam lâu nay luôn thiếu vắng những biện pháp chăm sóc từ gốc làm nó ngày càng mục ruỗng do đó mà nội lực của quốc gia ngày càng suy kiệt. Nguồn lực trong nước không chỉ ít được tạo mới mà còn bị khai thác tràn lan và phí phạm. Nguồn lực quan trọng nhất là con người thì ngày càng kém chất lượng và bị xem thường. Vốn xã hội thì bị xói mòn và xuống cấp. Niềm tin thì bị đem ra chơi trò cút bắt bịt mắt bắt dê. Chúng ta rất muốn lạc quan để vượt qua khó khăn nhưng thật khó để tìm thấy những sở cứ cho nó.

Vẫn theo đuổi ngắn hạn

Vì sao các chính sách vĩ mô thời gian qua chỉ thích ở ngọn thì cũng không khó hiểu. Dù các công cụ tiền tệ và tài khóa này chỉ có tác dụng ngắn hạn nhưng chúng lại dễ làm, và lại rất dễ bị lợi dụng để trục lợi bởi các nhóm lợi ích và cả những người sử sụng công cụ. Hậu quả dài hạn của nó thì người dân “hưởng” trọn. Các biện pháp cải cách hành chính và thể chế là điều vừa khó, lại vừa làm mất đi quyền lực để trục lợi cho nên vẫn ì ạch giậm chân tại chỗ. Vừa rồi có một đại biểu quốc hội chất vấn thủ tướng đại ý là làm sao cải cách hành chính có tiến triển để dân gian không phải kêu hành dân là chính nữa. Người đứng đầu chính phủ thay vì trả lời thì phản bác lại rằng qui kết như thế là không có thực tiễn.

Tuy nhiên điều đáng quan ngại hơn nữa là những phát biểu của các thành viên chính phủ trước kỳ họp quốc hội vừa rồi cho thấy trong những năm kế tiếp chính phủ sẽ vẫn theo đuổi những chính sách ngắn hạn bằng các công cụ tiền tệ và tài khóa; không nhìn nhận tình trạng khủng hoảng để giải quyết tận gốc. Chi phí cho việc duy trì bong bóng này rất tốn kém, làm cho nguồn lực trong nước đã yếu lại càng thiếu hụt, chỉ những kẻ trục lợi và đầu cơ chính sách là hưởng trọn. Dự trữ trong dân bị “xén lông cừu” nên đã vơi cạn bởi những cơn sốt phình lên xẹp xuống của các bong bóng chứng khoán, nhà đất, lạm phát, lãi suất, tỷ giá. Dự trữ ngoại tệ quốc gia được cho biết là có tăng lên chút ít. Tuy vậy, sau lời khẳng định nhiều lần của người đứng đầu chính phủ trước quốc hội và toàn dân về việc người nông dân trồng lúa lời trung bình 60% trong năm 2008, người dân đã có cơ sở để hoài nghi về tất cả những số liệu khác mà chính phủ công bố.

Tin từ việc chuẩn bị hội nghị của chính phủ trong tháng tới để triển khai nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 2009 cho hay: các tập đoàn và tổng công ty nhà nước sẽ lại được dành ưu tiên rất lớn trong việc đầu tư kích cầu và đầu tư đón đầu hậu khủng hoảng. Cho dù quốc hội có yêu cầu xiết chặt quản lý các tập đoàn kinh tế, nhưng sự khẳng định của người đứng đầu chính phủ trước quốc hội về vai trò quan trọng của các doanh nghiệp này trong việc điều tiết vĩ mô và kiềm chế thành công lạm phát vừa rồi, đã cho họ những kim bài miễn tội, thúc đẩy họ tiếp tục đi vào những kế hoạch tai hại. Những kiểu điều hành vĩ mô thế này cho thấy mong muốn phát triển bền vững chỉ là những khẩu hiệu suông.

Bất ổn đang gia tăng

Tình trạng bất ổn xã hội đang gia tăng. Trong cả 2 kế hoạch của 2008 và 2009 đều đặt mục tiêu tạo ra 1,7 triệu việc làm mới mỗi năm. Nếu đây là một tính toán nghiêm túc thì nó thể hiện sự thụt lùi về chất lượng tăng trưởng vì năm 2008 ban đầu được dự kiến sẽ tạo ra 8,5 – 9% tăng trưởng GDP; con số tương tự cho 2009 là 6,5%; số việc làm được tạo mới bằng nhau cho một mức tăng sản lượng thấp hơn, tức năng suất lao động trên đầu người sẽ sụt giảm. Sự tăng trưởng không dựa trên tăng năng suất thì làm sao nói đến phát triển bền vững được. Mà làm sao có được việc làm mới trong khi lực lượng duy nhất làm được điều này trong nhiều năm qua là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang hấp hối và đã chết gần một nửa. Thực ra không ít người thừa hiểu rằng những con số mục tiêu về việc làm này được đưa ra để che dấu tình trạng thất nghiệp đã và sẽ còn tăng nhanh và phức tạp trong thời gian tới. Tội phạm và tệ nạn xã hội cũng theo đó mà tăng mạnh.

Với người nông dân thì tương lai trước mắt còn mờ mịt hơn rất nhiều. Lực lượng lao động trong khu vực này ngày càng tăng cả về con số lẫn tỷ lệ. Trong khi đó tư liệu sản xuất quan trọng nhất là đất đai th
đang bị thu hẹp nhanh chóng, mà đầu tư cho công nghệ để gia tăng năng suất lao động thì gần như bằng không. Chuyển đổi sang việc làm trong khu vực công nghiệp và dịch vụ thì gặp phải những chiếc bánh vẽ của các kẻ đầu tư để chiếm đất nông nghiệp. Số cầu lao động do các doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo ra hàng năm cho khu vực nông thôn thì bây giờ là một con số âm to tướng. Những công nhân gốc nông dân giờ đây trở về quê với hai bàn tay trắng, không đất không nghề. Mưu sinh với họ là cả một thử thách đạo đức. Hàng tỷ đô-la đầu tư kể cả từ nước ngoài lẫn từ nhà nước thì số dành cho nông nghiệp và nông thôn chỉ là phần thừa đuôi thẹo. Lúa, cá, tôm, cà phê, v.v… giảm giá và ế ẩm đang chồng chất nợ nần lên người nông dân. Doanh nghiệp nếu phá sản còn áp dụng được luật để giải trừ trách nhiệm trả nợ, còn người nông dân thì có chết cũng không hết trách nhiệm do vỡ nợ. Con giun xéo mãi cũng oằn.

Mong qua ngày đoạn tháng

Bức tranh chung thật là u ám. Và điều đáng lo sợ nhất là tư duy đối phó ngắn hạn của những người cầm chèo cầm lái. Người ta vẫn còn trông chờ vào những phép màu nên tiếp tục mua thời gian bằng cách vay mượn tương lai để tạm qua năm tháng hiện tại. Nhưng không ai mua mãi như thế được vì thời gian mua được càng về sau càng ngắn đi do chi phí mua càng tăng lên. Cũng giống như phải chấp nhận vay siêu cao của người sau để trả lãi cao cho người cho vay trước đó vậy, càng ngày càng cụt dần. Nếu trước đây những chính sách ngắn hạn chỉ thấy hậu quả khoảng vài ba năm sau đó, thì bây giờ chỉ vài tháng là hiển hiện.

Năm 2007 tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng kém chất lượng vào đầu năm thì cuối năm lạm phát tăng mạnh; giảm thuế nhập khẩu để chống đợt lạm phát này thì ngay lập tức nhập siêu tăng vọt vào đầu năm 2008; kéo theo lạm phát cùng phi mã. Rồi nó lại được chữa trị bằng lãi suất cao, giết chết sản xuất trong nước chỉ vài tháng sau đó. Bị buộc phải cam kết với giới tài phiệt giữ giá tiền đồng cao đến không tưởng nên tất yếu phải nâng lãi suất càng cao hơn nữa để giữ chân dòng vốn đầu cơ không chạy ra ngoài. Nhưng bài học chưa kết thúc. Sau khi đã trục lợi chán chê bằng cách đó thì các dòng vốn này đang được rút dần và gia tăng áp lực lên tỷ giá.

Cả nước đang gồng mình chịu đựng sức căng của bong bóng tỷ giá. Bây giờ nếu không muốn dòng vốn này chuyển ra khỏi Việt Nam thì phải có những món gì khác rất hời hơn nữa để giữ chân họ lại. Dài hạn hay ngắn hạn, chấp nhận xì hơi bong bóng tỷ giá hay bơm áp lực của nó qua chỗ khác là bài toán đang đợi sự quyết định khôn ngoan lẫn dũng cảm hay không của những người cầm lái. Có rất ít hy vọng để tin cơ hội cuối cùng này sẽ không bị đánh mất. Những kẻ cơ hội và các nhóm lợi ích tư vẫn đang chực chờ vây quanh các tay chèo và bánh lái với hàng trăm biện pháp trục lợi được che dấu dưới những chiêu bài “ổn định kinh tế vĩ mô”.

Dân phải tự cứu mình?

Thiếu tỉnh táo chiến lược lần này sẽ dẫn đến một sự sụp đổ. Hậu quả của nó sẽ rất kinh hoàng và còn phải chịu thêm tác động kép của khủng hoảng thế giới. Việt Nam đang phụ thuộc quá nhiều vào ngoại lực. Lần này không chỉ dân nghèo, bình dân phải hứng chịu nặng nề, mà thành phần trung lưu thành thị lẫn nông thôn đều sẽ phải chịu đựng những hậu quả kinh khủng, chưa thể lường hết được. Những lúc khó khăn, người dân có quyền trông chờ vào sự ra tay của nhà nước, điều đó không thể gọi là ỷ lại. Nhưng nhà nước sẽ làm gì thì đến giờ vẫn chưa rõ ngoài việc kêu gọi toàn dân cùng chia sẻ khó khăn và làm mọi người lạc quan ảo.

Trong những tình huống như vậy, nếu không có những cam kết thành thật và dẫn hướng từ nhà nước thì dân chúng sẽ hành động ở trạng thái mất niềm tin để tự cứu lấy mình. Đó là lúc rối loạn xã hội sẽ phát triển nhanh chóng. Và những kẻ đầu cơ trên sự rối loạn đó lại xuất hiện đúng lúc.

Chúng ta đều mong điều tốt đẹp, nhưng có lẽ người dân phải dự phòng tình huống xấu nhất để tự lo cho mình.

Trần Đông Chấn
Mùa đông tháng 11, 2008

Kỳ sau: Làm gì để vượt qua khó khăn này? Để trả lời tốt nhất câu hỏi này, rất mong các bạn đọc đóng góp ý kiến, giải pháp bằng hộp comment bên dưới hoặc gửi email đến tdc2010@gmail.com. Nhóm nghiên cứu rất hoan nghênh và quan tâm đến tất cả mọi ý kiến xây dựng. Xin cảm ơn.

Advertisements

Comments (60) »

TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO

Tôn tạo sinh thành ơn cha mẹ

phạm nên người nghĩa thầy cô

Trọng đức công thầy xin ghi khắc

Đạo nghĩa ơn cô suốt cuộc đời

Xin trân trọng tri ân đến tất cả nhà giáo Việt Nam

Trần Đông Chấn

Đầu đông tháng 11, 2008

Comments (14) »

TỰ DO VÀ SỰ SỢ HÃI

Một đêm đầu tháng 11 này, vừa vào blog thì thấy ngay một bức thư chủ đề “khẩn”, mở ra đọc:

Thưa chú,

Cháu đường đột viết thư này vì một chuyện mà cháu thấy cần chú giúp. Cháu là một bộ đội đang đóng quân tại Trung đoàn Gia Định, Hóc Môn thành phố Hồ Chí Minh, ở cùng đơn vị với anh Nguyễn Tiến Trung mà có thể chú biết vì đã lập ra Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ. Cháu thích ảnh vì ảnh hiểu biết nhưng khiêm tốn và hòa đồng, không giống những gì mà có lần cháu đọc được trên báo Công An nói về ảnh trước khi cháu vào bộ đội. Có lẽ vì lý lịch đặc biệt của ảnh mà cấp trên luôn giao người theo dõi mọi động thái của ảnh và hình như ảnh cũng biết nên sinh hoạt rất đúng mực. Thời gian rảnh cháu thấy ảnh toàn đọc sách.

Nhưng tuần rồi ảnh bị đưa ra đấu tố phê bình trước toàn đơn vị, khoảng 4 đến 5 người công kích ảnh nặng nề, nói rằng ảnh háo danh đấu tranh dân chủ. Những người quí mến ảnh như cháu thì chẳng làm được gì vì ai cũng biết nếu nói ra thì thế nào cũng bị kỷ luật. Lý do ảnh bị như vầy là vì đọc và cất các tài liệu dân chủ trong đơn vị. Hiện nay ảnh đang bị quản lý rất đặc biệt, nhiều người theo dõi, tụi cháu nghe nói rằng nếu ảnh bị kỷ luật một lần nữa thì có thể bị giam. Nhưng điều đáng lo lắng hơn là cháu biết được rằng hiện nay có nhiều người được phân công để tìm ra những sơ hở của ảnh, mà sơ hở thì sao mà tránh được, ví dụ như đi hành quân đến các nơi xa, có khi hàng trăm cây số đi bộ, phải mang súng theo người. Ai sơ hở để mất súng là có thể bị phạt tù giam đến 7 năm theo luật của quân đội.

Cháu không biết nhiều về cái việc mà ảnh làm trước khi vào bộ đội, cháu chỉ thấy rằng ảnh là người tốt, nếu không may bị chuyện gì đó tương tự như trên thì rất tội nghiệp cho ảnh. Cháu thực tình không biết làm sao, nghe bạn bè cháu nói rằng chú là người hiểu nhiều, hiểu rộng nên cháu thử viết cho chú biết, hy vọng là chú sẽ làm được điều gì đó giúp ảnh.

Kính chúc chú sức khỏe.

Cháu kính thư.

Tôi không biết nhiều về chàng thanh niên Nguyễn Tiến Trung, cũng chưa bao giờ gặp mặt. Tôi chỉ mới đọc một số bài viết liên quan đến Trung trên BBC và vài lần trao đổi với Trung trên blog này. Nhưng tôi cảm kích người thanh niên này đã sẵn sàng từ bỏ công việc đang làm với lương cao để đi vào quân đội vì điều mà mình tin là sẽ có ích cho nhiều người. Nếu xã hội có nhiều người như thế thì nó đã tốt đẹp hơn rất nhiều. Nhưng thật tiếc rằng không ít thanh niên bây giờ sống thật vô cảm và ích kỷ.

Một ngày hè tháng 6 vừa rồi, lâu lắm mới ngồi sau tay lái trên đường Sài Gòn. Sắp đến giờ tan tầm nên người trên đường bắt đầu hối hả. Đường Nguyễn Thái Học đông xe nhưng không kẹt, vẫn có thể chạy với tốc độ đến 25 km/h nhờ không có các dãy lô cốt công trường. Qua cầu Ông Lãnh, gần tới ngã ba Hoàng Diệu nghe thấy tiếng xe cứu thương hú inh ỏi phía sau, tôi vội vàng giảm tốc độ, tạt xe vào bên phải, ấn còi liên tục và ép nhiều xe máy dạt vào trong để tạo khoảng trống bên trái cho xe cứu thương vượt lên. Tôi thật bất ngờ khi thấy hàng chục chiếc xe máy khác tranh thủ khoảng trống vừa tạo ra để chèn lên trước và cản luôn hướng vượt lên của xe cứu thương đang ngay cạnh bên trái xe tôi. Đúng lúc ấy đèn đỏ, những chiếc xe máy “cướp” đường này lại tuân thủ luật pháp một cách khó hiểu, họ dừng lại ngay trước mũi xe cứu thương, bất chấp tiếng còi vừa inh ỏi vừa tha thiết của nó. Tôi quan sát rất kỹ, hơn một chục xe máy mà không một người cầm lái nào thậm chí ngoái đầu nhìn phía sau vì họ biết thừa rằng sau họ là chiếc xe cứu thương mà họ vừa vượt qua. Một sự vô cảm đáng sợ.

Ngay lúc đó cửa xe bên phải tôi bị đạp mạnh, nhìn qua tôi thấy một thanh niên cỡ 25 tuổi, tóc nhuộm vàng chóe; một tay cầm nón bảo hiểm, một tay đang đập mạnh cửa kính; miệng la to bắt tôi ra khỏi xe. Bước đến anh ta tôi thấy một chiếc SH còn mới ngã cạnh xe tôi. Chàng thanh niên hùng hổ:

“Ông ép té xe tôi mà lại ngồi yên trên xe vậy hả?”

Tôi giải thích rằng tôi thực sự không biết vì tôi đang mãi tránh và quan sát xe cứu thương, và tôi xin lỗi. Nhưng cậu ta vẫn lớn tiếng, chửi thề và bắt tôi đền. Tôi sợ tắt đường nên bảo cậu ta dựng xe lên đưa vào lề bên kia đường Hoàng Diệu, tôi cũng sẽ đánh xe vào nói chuyện. Không ngờ cậu ta lại hét lớn:

“Mày định xóa hiện trường à?”

Cậu ta chỉ cỡ nửa tuổi tôi. Tôi vẫn lên xe và đánh qua bên kia lề mặc cho lúc đó cậu ta đứng phía bên cửa lái đập cửa đe dọa. Tôi dừng và bước xuống xe, cậu ta cũng dựng xe lên và chạy đến chỗ tôi đứng.

“Bây giờ ông tính sao? Xe tôi trầy nặng như vầy, máy móc không biết có ảnh hưởng gì không nữa, quần tôi cũng bị cà xuống đường, hư rồi, hàng hiệu đó biết chứ!”

Tôi bảo rằng đây là rủi ro không ai muốn, tôi thực sự không biết và cũng không cố tình làm cho cậu ta ngã, lúc đó rõ ràng có một xe cứu thương, tôi nói:

“Nếu anh biết thông cảm cho hoàn cảnh lúc đó thì anh cũng đã nhanh chóng dạt vào lề phải thì tôi đã có thể không vô tình làm anh ngã, xe cứu thương đã hú còi từ rất xa, anh đã nghe và đáng lẽ phải sẵn sàng tránh qua phải. Tôi cũng không thấy thiệt hại gì đáng kể,
điều quan trọng là anh đã không bị gì là may mắn rồi. Xe tôi cũng trầy xước nặng. Nhưng đây là chuyện không lớn, chúng ta nên bỏ qua.”

Cậu ta vẫn cương quyết không, giọng điệu càng gây gổ và đe dọa, cậu ta còn nói:

“Đ.. cần biết xe cứu thương gì cả, chuyện này giữa tôi và ông thôi.”

Tôi nói nếu cậu ta không đồng ý tôi sẽ gọi công an. Cậu ta thách. Tôi bấm 113 và cậu ta cũng điện thoại cho ai đó. Lát sau hai cảnh sát giao thông đến, tôi trình bày sự việc và yêu cầu cảnh sát xác minh với những người chứng kiến bên đường, và tôi yêu cầu phải làm rõ ràng sự việc này. Cậu thanh niên giờ lại khăng khăng với cảnh sát là tôi chạy ẩu, giành đường và ép cậu ta té, lúc đó xe cứu thương đã đi qua rồi, tôi sai nên xóa hiện trường. Tôi chỉ yêu câu cảnh sát làm đúng trách nhiệm. Thấy nãy giờ cậu ta không hề xuất trình giấy tờ nên tôi cương quyết yêu cầu cảnh sát kiểm tra bằng lái xe của cậu ta. Lúc ấy, cậu ta có vẻ đổi giọng rồi lấy điện thoại, gọi cho ai đó và đưa máy cho một trong hai người cảnh sát. Họ nói gì tôi không biết, chỉ biết rằng ngay sau đó người cảnh sát này bước đến tôi nói rằng “để em giải quyết việc này, anh đi đi” và trả lại giấy tờ cho tôi.

Lên xe mà lòng tôi nặng trĩu. Con người không xử sự với nhau bằng đạo lý và cần đến pháp luật. Đại diện của pháp luật thì không hề giải quyết bằng luật pháp. Tất cả giềng mối của xã hội mà không có đạo lý lẫn pháp luật làm nền tảng thì nó đứng trên cái gì? Câu hỏi này làm tôi nhớ đến bộ phim “The Quick and the Dead” (*) xem trên HBO vài tháng trước. Chuyện phim kể về một thị trấn nhỏ tên Marshall thời miền tây hoang dã của nước Mỹ. Nó bị một băng cướp chiếm giữ và cai trị. Người đứng đầu luật pháp của thị trấn bị hành hình. Cô con gái vị thành niên của người này bị ép buộc phải nổ súng để cứu cha nhưng viên đạn vô tình giết chết cha mình. Tên đầu đảng áp đặt thu phí 50% tiền kiếm được của cư dân thị trấn bằng nỗi sợ hãi của chính họ. Hắn triết lý rằng hắn tạo ra được trật tự nên không cần đến luật pháp. Hắn làm mọi cách để mọi người hiểu và nhận thức rằng hắn là duy nhất ở đây được cầm quyền và ra lệnh. Hắn cho gì thì người khác mới được làm. Không ai dám nói hay làm gì mà hắn không thích. Không ít kẻ theo hắn, phục vụ hắn, bán mình cho hắn thì được sống trên nhiều người. Nhưng hầu hết mọi người đều câm lặng để sống yên ổn trong nỗi sợ hãi.

Đến một ngày cô gái ấy trở về, đã trở thành một tay súng thiện xạ vì lâu nay cô nung nấu ý chí trả thù cho người cha yêu quý. Nhưng rồi chính cô cũng rơi vào nỗi sợ hãi vì thế lực của tên đầu đảng, vì tài đấu súng của hắn. Và quan trọng hơn hết là vì cô thấy toàn người xấu thị hiện, không thấy người tốt ở đâu. Cô nhục nhã bỏ đi và định từ bỏ luôn ý định trả thù cha. Trên đường cô gặp lại một vị bác sĩ già, người bạn cũ của cha cô. Ông nói với cô rằng thực ra còn rất nhiều người tốt ở thị trấn đó, nhưng tất cả họ đều hèn nhát cũng như ông nên cô không được thấy. Nhưng họ vẫn hy vọng và chờ đợi một người can đảm nào đó dám đứng lên dừng tên đầu đảng lại. Một khi có người như thế, người tốt sẽ xuất hiện và giúp đỡ. Cuối cùng cô đã trở lại và hạ được tên đầu đảng với sự giúp sức của nhiều người tốt, trong đó có một người đã từng là đồng bọn của hắn. Người ta đã giúp cô để cô trả lại pháp luật cho thị trấn, không phải để cô trả thù.

Nỗi sợ hãi cũng có thể được dùng để xây nên giềng mối cho xã hội. Nhưng chắc chắn rằng nó sẽ không bền vững và tốt đẹp.

Cậu bé viết thư trên cho tôi đã làm một việc tốt nhưng phải len lén, ở giữa nhiều người thì sợ không dám lên tiếng bảo vệ điều mình nghĩ là đúng. Cậu thanh niên tóc vàng mặc hàng hiệu thì bộc lộ đủ thứ cái xấu nhưng chẳng biết sợ gì trước bàn dân thiên hạ và cả luật pháp. Chẳng khó gì để thấy xung quanh ta hằng ngày hàng nghìn chuyện nghịch lý như thế. Đưa hối lộ là xấu và sai nhưng chẳng mấy ai sợ, nhưng phát hiện và tố giác tham nhũng thì giờ ai cũng sợ … đi tù. Xã hội sẽ đi về đâu khi người ta sợ làm cái tốt, cái đúng là điều quá dễ đoán trước.

Trần Đông Chấn

Cuối thu tháng 11, 2008


* Tựa tiếng Việt trên đĩa DVD là “Bắn chậm thì chết”

Comments (52) »

DANH CH��NH NG��N THU���N

Nguyễn Việt Tiến được tuyên vô tội trên danh nghĩa nhưng thực tế lòng dân ai cũng nghĩ ông ta có tội nặng.

Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Văn Hải vừa bị kết tội trên danh nghĩa nhưng thực tế người dân luôn nghĩ các anh là những người có công lớn.

Một nhà nước pháp quyền chỉ tồn tại khi danh nghĩa phù hợp với thực tế, tức điều chính quyền nói phải thuận với lòng dân.

Danh chính ngôn thuận. Nhưng khi ngôn đã không thuận thì danh tất thành bất chính. Sai biệt giữa danh nghĩa và thực tế càng lớn thì mâu thuẫn của xã hội càng trầm trọng.

Anh Chiến và anh Hải hãy tin rằng đại đa số người dân đều chia sẻ sâu sắc nỗi uất hận của các anh và những trái ngang khác mà các anh và gia đình đã và đang phải gánh chịu. Những bức xúc dưới đây được gửi đến trong lúc những dòng chữ này đang được viết:

“Tôi đọc một bài báo hay tôi thấy nợ người viết một món nợ tinh thần. Giờ vì bài báo ấy mà họ rơi vào vòng oan trái thì ta phải làm gì để trả được món nợ ấy?”

“Thật sự là quá đáng, ở đây công lý không còn tồn tại nữa. Tôi thấy nghẹn ngào, không nuốt nổi, cũng may vẫn còn những người như nhà báo Chiến, đến phút cuối vẫn bảo vệ chính kiến và lẽ phải, những lời nói của ông Chiến quả thật là phẫn uất, thật tội nghiệp, ông Chiến còn đủ sức đứng trước toà án, đó là sự phi thường của lòng dũng cảm và sức sống rất mãnh liệt. Còn chúng ta, tại sao không có một chiến dịch nào, một tiếng nói chung nào cất lên đi?”

Và còn nhiều, nhiều hơn thế nữa …

Các anh mãi mãi là những nhà báo trong lòng dân cho dù những tờ báo chính thức trên danh nghĩa đã gọi các anh là “nguyên nhà báo”.

Người dân chúng tôi thề sẽ lấy lại công bằng cho các anh một cách danh chính ngôn thuận.

Trần Đông Chấn

Mùa thu tháng 10, 2008

Comments (39) »

TẢI FILE ĐỌC ĐƯỢC TRÊN DI ĐỘNG

Đáp ứng yêu cầu của một số bạn đề nghị có file của các bài viết được định dạng prc để đọc được trên điện thoại di động, dưới đây là những đường link để tải các file này của một số bài. Những bài khác có thể tải file prc ngay tại các entry của chúng.

VIỆT NAM ĐỒNG ĐANG Ở ĐÂU VÀ SẼ ĐI VỀ ĐÂU

ĐÔ-LA NGOẠI SẼ ĐI TỚI ĐÂU

KHỦNG HOẢNG VÀ THỜI CƠ

MỘT NĂM SAU ĐẠI HỘI X – CẢNH BÁO NHỮNG NGUY CƠ QUỐC GIA

GÓP Ý CHO BỘ CHÍNH TRỊ 150 NGÀY SAU ĐẠI HỘI X

Các file tải về đã được nén (.zip), trong đó có 2 file theo định dạng .pdf (Acrobat) và .prc (mobile reader).

Cảm ơn sự quan tâm của các bạn.

Comments (2) »

ĐỘNG LỰC CHO THAY ĐỔI

Kính gửi anh Nguyễn Tâm – Đảng Dân chủ Việt Nam

Tôi đã đọc bản tuyên bố anh gửi cho tôi về quan điểm của đảng Dân chủ Việt Nam ngày 1 tháng 9 năm 2008. Tôi nhận thấy đây là một nhận thức giá trị trong đường lối hiện nay.

Đại biến cố sắp diễn ra ở Việt Nam tới đây sẽ là một biến động từ sự sụp đổ niềm tin. Đó là điều không thể tránh khỏi vì nó là kết quả cuối cùng của một quá trình cầm quyền sai qui luật, trái lòng dân. Nó sẽ xảy ra, diễn tiến và kết thúc rất nhanh trong vòng 2 năm nữa vì được ngoại lực rất mạnh thúc đẩy một cách có chủ đích để lợi dụng. Mặc dù đứng trước một cơ hội để thay đổi nhưng Việt Nam cũng sẽ đối mặt với một nguy cơ rất tai hại. Lịch sử thế giới và Việt Nam cùng cho thấy những cuộc cách mạng được phát động bằng cách kích động lòng hận thù của dân chúng đều dẫn đến những sự phá hủy xã hội nặng nề. Cho dù chúng dễ dàng tạo ra sự thành công lúc phát động nhưng cũng thường đi kèm với những sự tàn phá vật chất lẫn tinh thần. Các nền tảng của xã hội không được tôn tạo tốt hơn mà còn bị xói mòn nghiêm trọng, dẫn đến những kết cuộc tồi tệ mà không tạo ra các nền văn minh mới. Những cuộc cách mạng Tháng Mười ở Nga, cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc hay cách mạng tháng Tám và cải cách ruộng đất ở Việt Nam là những ví dụ còn nguyên giá trị.

Các vấn đề từ kinh tế, xã hội đến chính trị ở Việt Nam và những quốc nạn mà nó tạo ra như tham nhũng, đàn áp bất đồng chính kiến, khủng hoảng kinh tế, v.v… đã và đang xói mòn lòng tin của người dân song song với nỗi uất hận của họ đang ngày càng lớn dần. Khi có sự tác động mạnh của ngoại lực sẽ dẫn đến một sự sụp đổ nhanh chóng. Thêm vào đó, ngoại trừ tác động của thời gian thì vẫn chưa có một biện pháp nào được thực hiện để xóa bỏ những chia rẽ sâu sắc trong cuộc chiến Việt Nam; cách hành xử của phe chiến thắng sau cuộc chiến là những vấn đề chưa dễ quên với không ít người trong lẫn ngoài nước. Tất cả những yếu tố đó sẽ dễ dàng biến thành một sự biến động mạnh được dẫn dắt bởi lòng hận thù. Đó là điều mà dân tộc Việt Nam cần phải tỉnh táo để tránh. Đất nước chúng ta cần sự thay đổi, và buộc phải thay đổi. Nhưng làm sao để đảm bảo rằng sự thay đổi sẽ tốt hơn mà không bị rơi vào những vòng lặp của lịch sử là điều rất cần được quan tâm trên hết. Những sự thay đổi bởi động cơ hằn thù thì sẽ luôn dẫn tới suy nghĩ và hành động thay đổi bằng mọi giá, nếu nó gắn với động cơ lợi ích của các nhóm nhỏ được khéo léo che đậy bởi đám đông quần chúng thì thực sự là tai họa mà chúng ta đã từng chứng kiến.

Mỹ và các đồng minh của họ đang sử dụng đòn “gậy ông đập lưng ông” với chính quyền hiện nay. Cộng sản đã duy trì sự tồn tại của chế độ và kiểm soát bộ máy quan lại bằng tham nhũng. Họ trả lương cho công chức rất thấp nhưng lại để rất nhiều kẽ hở cho tham nhũng. Đầu tiên người ta phải tham nhũng nhỏ vì không đủ sống đàng hoàng bằng lương, họ nghĩ đơn giản đó là những gì mà công bằng thì họ phải được do công sức của mình. Nhưng rồi lòng tham không cho họ dừng lại như thế, kẻ hỡ càng ngày càng nhiều. Dần dần hầu hết quan lại trở thành những kẻ phạm pháp nên phải ra sức bảo vệ chế độ bằng mọi giá, họ chống lại bất kỳ thay đổi nào vì sợ bị trừng phạt. Họ thực hiện bất kỳ mệnh lệnh nào của đảng Cộng sản bất chấp đạo lý, nếu không họ sẽ trở thành những con tốt bị thí. Có lẽ chính quyền Cộng sản cũng không ngờ rằng chẳng riêng họ mới biết khai thác chiêu thức này. Hơn 10 năm nay bằng chứng nhận hối lộ âm thầm được thu thập, và bây giờ chúng trở thành những công cụ cực kỳ hữu hiệu để sai khiến hệ thống quan lại ở Việt Nam. Những vụ truy tố đưa hối lộ tại Nhật và Mỹ liên quan đến quan chức Việt Nam gần đây chỉ là những vụ nhỏ để “rung cây nhát khỉ” mà thôi. Có rất nhiều những quan chức nhỏ bây giờ đã trở thành những nhân vật cao cấp mà bằng chứng nhận hối lộ và những bê bối khác “thưở nhỏ” của họ đang là những cái gót Achile bị điều khiển. Đến khi cục diện đã được khống chế thì một vài vụ truy tố hối lộ đình đám hơn sẽ được công bố – giọt nước sẽ tràn ly, niềm tin của dân chúng sẽ sụp đổ hoàn toàn.

Xã hội Việt Nam đang rất mong manh, dưới bề mặt có vẻ bình lặng của nó là những cơn sóng ngầm của u uất và hằn thù do bất công lâu nay và sự kích động thù hận trước đây tạo ra. Hơn lúc nào hết, cần phải nhanh chóng hình thành những động lực tích cực vì quyền lợi của cả dân tộc để dẫn dắt những biến động theo hướng tạo ra sự phát triển bền vững cho đất nước. Nếu không có những động lực như vậy thì theo lẽ tự nhiên, những biến động này sẽ được kích động bằng sự thù hận và dễ dàng bị lợi dụng để phục vụ cho những thế lực khác mâu thuẫn với quyền lợi dân tộc. Trong lịch sử của thế giới, những cuộc cách mạng thành công và gắn liền với việc tạo ra những nền văn minh mới cho nhân loại đều không có ảnh hưởng của sự thù hằn và gắn liền với những động lực thực sự nhân văn. Cuộc cách mạng tư sản ở Anh (1640) là một minh chứng như vậy, nó được dẫn dắt bởi tầng lớp tư sản mới vì nhu cầu phát triển thực tế của xã hội Anh thời bấy giờ, họ không giết vua để trả thù khi nắm được chính quyền. Nó còn được thúc đẩy mạnh mẽ bởi những tiến bộ khoa học kỹ thuật vì lợi ích của con người, từ đó dẫn đến một cuộc cách mạng công nghiệp rộng lớn trên toàn thế giới, tạo ra nền tảng thay đổi cơ bản những suy tưởng tư duy mới của nền văn minh nhân loại.

Như đã nhiều lần trao đổi với anh, dân chủ ở Việt Nam hiện nay cần được xác định là mục tiêu và phương tiện để xây dựng một xã hội văn minh và thịnh vượng cho toàn dân, chứ chưa thể là động lực cho một sự thay đổi. Dân chủ là nền tảng vững chắc của xã hội, thiếu dân chủ sẽ không có sự phát triển và thị
nh vượng bền vững. Nhưng dân chủ tự thân nó không thể tạo ra sự phát triển thịnh vượng. Dân chủ là điều kiện cần, rất cần nhưng không phải là điều kiện đủ. Nhiều nước đã có nền dân chủ lâu rồi nhưng vẫn nghèo, thậm chí rất nhiều nơi dân chủ còn bị lợi dụng để phục vụ cho quyền lợi của một thiểu số nhỏ. Chỉ khi nào xã hội có sự chuyển biến mạnh mẽ trong điều kiện sinh tồn và suy tưởng hoàn toàn mới thì mới tạo ra được một sự đột phá trong phát triển kinh tế lành mạnh- đây chính là điều kiện đủ. Sự phát triển kinh tế như vậy nếu được nuôi dưỡng trong một môi trường chính trị dân chủ thì sẽ tạo ra một xã hội phát triển hài hòa giữa vật chất và tinh thần một cách công bằng cho dân chúng. Chính những thành quả này sẽ trở thành những nhân tố rất quan trọng để duy trì dân chủ và đảm bảo một nền dân chủ thực chất. Thiếu những điều này thì dân chủ sẽ không bền vững hoặc chỉ là giả hiệu mà thôi.

Trong hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, công nghệ thì lạc hậu; nền kinh tế thì lệ thuộc; môi trường bị hủy hoại; giáo dục thì xuống cấp trầm trọng, việc tìm ra những thế mạnh cốt lõi từ những yếu tố này để tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ và động lực tích cực cho sự thay đổi từ những biến động sắp tới quả thật là một thách thức rất lớn, khó tìm ra lời giải. Tuy nhiên, những lợi thế của thiên nhiên và tạo hóa ban tặng cho mảnh đất và con người Việt Nam; những đặc tính văn hóa của dân tộc được hình thành qua hàng ngàn năm lịch sử chính là những thế mạnh cho đất nước ta trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày nay. Vấn đề văn hóa từ trước đến giờ thường được đề cập một cách thụ động như cảnh báo các nguy cơ của văn hóa du nhập, làm sao để bảo vệ văn hóa không bị tấn công, cần có các biện pháp bảo hộ văn hóa, v.v… Ít có những cách tiếp cận chủ động để khai thác văn hóa như một sức mạnh tạo ra động lực phát triển của cả một dân tộc, quốc gia. Bản tính trời cho dân tộc Việt Nam là ôn hòa và thân thiện, không thích suy tư tranh cãi về triết học hay các lý thuyết chính trị. Điều này dẫn hướng đến một tầm nhìn lớn về chiến lược giao thoa văn hóa và giao lưu kinh tế giữa đông và tây. Đây thực sự là lợi thế về đặc tính của con người Việt Nam trong việc hấp thụ rồi tạo nên những thành tựu văn hóa và kinh tế mới thông qua sự tương hợp với bất kỳ nền văn minh nào trên thế giới mà không tạo ra những mâu thuẫn và xung đột về văn hóa, sắc tộc và tôn giáo.

Việt Nam là nước có nền văn hóa và tiếng nói phương đông nhưng lại có chữ viết theo kiểu phương tây, đó chính là những di sản do lịch sử tạo lợi thế cho dân tộc ta trong một môi trường đa phương toàn cầu của hệ thống quốc tế mới đang hiện hữu. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong một bối cảnh thế giới đang nhiều biến động như hiện nay, xu thế hình thành đa cực để chống lại sự đơn cực cộng với sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung quốc và Ấn Độ, sự không chịu thua của Nga chắc chắn sẽ làm nảy sinh thêm nhiều xung đột cả về quân sự lẫn văn hóa, sắc tộc và tôn giáo. Sự xuất hiện một nơi cân bằng về kinh tế, văn hóa và chính trị sẽ rất cần thiết để duy trì sự ổn định cho thế giới. Và đương nhiên, nơi cân bằng đó sẽ được hưởng lợi rất lớn. Việt Nam là một mảnh đất lành, có đầy đủ những ưu điểm về con người và lịch sử cũng như giá trị của vị trí trung tâm trong vùng châu Á Thái bình dương, cũng là giao điểm của đông và tây để trở thành một nơi cân bằng như vậy. Dẫn hướng này cũng sẽ mở ra một khả năng đột phá để giải quyết vấn đề tranh chấp biển đông và bảo vệ lãnh thổ. Thụy Sĩ đã tránh được các cuộc chiến tranh lớn ở châu Âu và phát triển thanh bình là nhờ làm “túi tiền” của bất kỳ phe nào. Việt Nam có thể biến mình trở thành cái “chợ” của bất kỳ nước nào.

Người dân cần được định hướng và tạo động lực để xây dựng những cái mới tốt hơn thay thế dần cho những cái cũ. Động lực của sự hận thù dễ dàng dẫn đến sự đập phá những cái cũ trước khi cái mới có thể hình thành và phát triển. Ngay cả vấn đề tham nhũng cũng cần có cách nhìn khoan dung với quá khứ của nó để triệt tiêu những động lực chống đối sự thay đổi. Tham nhũng ở Việt Nam phát triển phức tạp đến mức nó vừa là nhân mà cũng vừa là quả. Cần nhìn nhận nó như một vấn đề chính trị và lịch sử để tạo ra được những giải pháp tích cực từ đó. Tôi hẹn sẽ trao đổi sâu hơn với anh về vấn đề này vào một dịp khác.

Đọc bản tuyên bố quan điểm của Đảng Dân chủ Việt Nam tôi thấy rất mừng vì các anh đã khẳng định một thái độ không hận thù, đặt sự đoàn kết và hòa hợp dân tộc làm nền tảng. Tôi tin rằng bản tuyên bố này sẽ có những ảnh hưởng tích cực nhất định đến chủ trương của các đảng khác đang hoạt động và sẽ ra đời trong thời gian tới.

Tôi cũng có niềm tin và rất hy vọng vào đảng Dân chủ Việt Nam sẽ có một vai trò quan trọng trong công cuộc chấn hưng đất nước tới đây. Tôi cũng mong rằng các anh sẽ quan tâm đến những vấn đề động lực cho thay đổi và phát triển đất nước một cách bền vững.

Chúc đảng Dân chủ Việt Nam vững bước thành công.

Chúc anh sức khỏe

Chào trân trọng

Trần Đông Chấn

Trung thu tháng 9, 2008

Tải file pdf và prc tại đây

Comments (27) »

TẤT CẢ MỌI NGƯỜI ĐỀU SINH RA CÓ QUYỀN BÌNH ĐẲNG…

Tối 18 tháng 8 vừa rồi, lúc các kênh truyền hình trong nước đang tuyên truyền về cuộc Cách mạng tháng Tám thì kênh HBO cho chiếu lại bộ phim Giải cứu binh nhì Ryan. Bộ phim kể chuyện gần một tiểu đội do một đại úy chỉ huy đã ngã xuống để cứu cho bằng được một binh nhì vì anh ta là người còn lại duy nhất của gia đình Ryan. Cha của họ đã tử trận để lại người mẹ và bốn người con trai ở một vùng quê. Chiến tranh Thế giới II nổ ra, Mỹ tham chiến, cả bốn anh em Ryan đều phải nhập ngũ. Hai người đã hy sinh trong trận đổ bộ lên Normandy nước Pháp, cùng lúc đó một người khác chết trên chiến trường New Guinea Thái bình dương. Người mẹ nhận một lúc ba giấy báo tử và đã ngã quỵ. Binh nhì Ryan trở thành người nối dõi duy nhất nhưng cũng đang trong tình trạng nguy hiểm vì lực lượng nhảy dù của anh ta bị thả sai địa điểm. Những người chỉ huy cao nhất của nước Mỹ đã ra lệnh đưa bằng được bình nhì Ryan ra khỏi chiến trường châu Âu trở về mới mẹ. Cả tiểu đội chỉ có hai người còn sống cùng với Ryan.

Một người mẹ Việt Nam, chồng đã ngã xuống vì đất nước còn lại bốn người con trai. Ba con trai lớn được mẹ động viên cho ra trận và lần lượt không trở về. Còn lại người con út, mẹ có quyền không cho anh tòng quân vì cha anh mình đã hy sinh hết cho đảng và tổ quốc. Nhưng mẹ vẫn cứng cỏi, dứt ruột dẫn anh đăng ký nhập ngũ để được vinh dự làm bộ đội cụ Hồ. Và anh đã mãi không trở về với mẹ nữa. Mẹ cô đơn ôm lấy nỗi đau một mình, nhận danh hiệu anh hùng và trở thành biểu tượng của đức hy sinh và minh chứng sống cho sự hợp lòng dân của đảng. Hai câu chuyện ở hai bờ Thái bình dương, không biết mức độ thật đến đâu vì đều là cách thức tuyên truyền cho những thể chế chính trị. Nhưng có một điều dễ dàng thấy rõ sự thật: giá trị của con người được nhìn nhận rất khác nhau giữa hai chế độ.

Gần 3 tháng nay câu chuyện thật về bà Năm Nghê ở Quảng Nam trong chiến tranh phải tự tay giết chết con trai 3 tháng tuổi cứ bám tôi không dứt. Một em bé đã phải chết mà không có tội tình gì, một người mẹ phải sống tủi khổ với cảm giác tội lỗi trong suốt cả hơn nửa cuộc đời còn lại. Một sự hy sinh quá lớn của hai mẹ con, nhưng để làm gì? Để cứu những người còn lại đang cầm súng. Nhưng sao lại phải giết em bé để cứu những người này? Mà sao lại để chính mẹ em giết em chứ không phải một người khác làm chuyện đó? Sao lại phải giết em, một đứa bé vài tháng tuổi có thể bịt miệng là nó không thể khóc thành tiếng và sau đó sẽ lả sức, không thể khóc nữa, cần gì phải giết? Thế những người sống sót giờ đang làm những gì cho linh hồn của em, tâm hồn của mẹ em và tương lai của bao em nhỏ khác? Cái giá của con người ở đâu? Những câu hỏi ấy cứ ám ảnh tôi như một món nợ.

Ngày 2 tháng 9, 1945 là ngày tuyên ngôn độc lập của Việt Nam, cũng đúng vào ngày đó Nhật ký hiệp ước đầu hàng vì bại trận chiến tranh thế giới II. Đã 63 năm trôi qua, chúng ta vẫn rất nghèo cho dù đã có 23 năm đổi mới. Nước Nhật chỉ cần 20 năm từ khi bại trận đã biến mình thành một cường quốc từ những đống suy tàn đổ nát. Nước Nhật không có tài nguyên thiên nhiên gì đáng kể, điều gì đã tạo nên sự khác biệt như vậy nếu không phải là nhìn nhận giá trị của con người. Giá trị đó chỉ có thể được tôn tạo khi con người thực sự được tôn trọng và tự do. Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Án văn bất hủ ấy với người dân Việt Nam đến nay vẫn còn nằm trên giấy, và đó là tại sao ta vẫn nghèo vẫn đói.

Khi nghèo đói thì người ta chỉ biết đòi cái ăn cái mặc mà quên đi cái quyền tự do và bình đẳng mà mình đáng ra phải có. Khi được có ăn có mặc thì người ta lại bị mang ơn và sẵn sàng đánh đổi cái quyền thiêng liêng mà Tạo hóa ban cho mình để trả ơn cho miếng cơm manh áo. Và người ta được dạy rằng cách thức như thế sẽ tạo ra một sự ổn định để có được nhiều cơm nhiều áo hơn mà không biết rằng chính việc lãng quên cái quyền (và cũng là trách nhiệm) của Tạo hóa dành cho mình là nguồn gốc của mọi đói nghèo, tụt hậu, bất công và bóc lột.

Hãy sử dụng cái quyền ấy mà không phải đợi ai cho mình vì nó là của Tạo hóa. Chỉ khi nào mỗi người ý thức được rằng mình có những quyền tự do bình đẳng, bất khả xâm phạm và bảo vệ cái quyền ấy thì con người mới thực sự có giá trị. Và chỉ khi ấy người ta mới thoát khỏi đói nghèo tận gốc, xã hội mới thịnh vượng vững bền.

Dương Hữu Canh

Đầu tháng 9, 2008

Tải file pdf và prc tại đây

Comments (43) »